Thỉnh thoảng có dịp về họp mặt ở trường cũ hoặc nơi hải ngoại, tay bắt mặt mừng, hỏi han nhau ríu rít, nhắc lại những câu chuyện cũ hồi còn đi học. Quá khứ chợt sống lại…

- Ê hồi đó lúc mầy đi học tao thấy có nhiều cái đuôi theo mầy lắm…!?

- Có thiệt vậy hôn sao tao không biết?

- Trong lớp bả dữ như bà chằn không có em nào dám lỡ dại đầu quân.

- Không dữ để mấy ông nội đó ăn hiếp à.

… Hình như có cái gì cay cay nơi khóe mắt khi nhắc về một thời đi học.

“Sinh ra và lớn lên ở con hẻm nhỏ của thành phố Sài Gòn. Hồi đó dân cư còn thưa thớt, cuối con đường hẻm là con kênh nhỏ cỏ mọc um tùm. Trãi qua thời thơ ấu, cùng đi học, cùng chơi đùa bên nhau, là con gái nhưng tóc thì hớt ngắn như con trai, trò chơi nào mình cũng tham gia: đá banh, đánh vũ cầu, bơi lội, nhảy dây, tạt lon, búng thun, bắn bi…Nhiều khi ham chơi quên cả lúc phải về ăn cơm bị Ba Mẹ la hoài mà không bỏ tật.

- Con gái gì mà không có nhu mì, không biết bà mụ có nắn lộn không?

Nghe Ba cằn nhằn, Mẹ chỉ biết cười cầu tài: bây giờ nó chưa biết mắc cở, lớn lên tí nữa thì nó sẽ sửa tánh hơi sức đâu mà ông lo.

Thời gian trôi qua, bây giờ tôi lớn hơn tí nữa, tóc dài hơn một tí, bớt phá phách chỉ vì đi học phải mặc áo dài, nhưng thỉnh thoảng vẫn còn nghịch, giờ ra chơi lúc nhảy dây tôi thường cột túm hai tà áo dài để nhảy cho cao.

Nhân dịp nghỉ hè năm lớp 7, Ba Mẹ chở tôi về quê thăm bà con, mồ mả ông bà, lúc đó tôi không biết tên vùng quê nơi tôi đến. Trước khi Ba Mẹ tôi từ giã gia đình bà con trở về Sài Gòn, ba tôi kêu tôi lại dặn dò:

- Đây là gia đình Bác Tư, anh bà con của Ba, năm sau con sẽ về đây sống và tiếp tục đi học ở đây.

Nghe Ba nói vậy tôi lo sợ đến phát khóc:

- Con không muốn xa Ba Mẹ.

- Ba Mẹ chỉ bàn vậy thôi, về nhà mình sẽ tính lại.

Tưởng Ba Mẹ chỉ bàn vậy thôi nhưng không ngờ trở thành hiện thực. Tôi còn nhớ lúc đó tất cả giấy tờ Ba tôi lo hết, tới ngày thi Ba tôi chở tôi đến trung tâm thi và dặn dò:

- Ráng nha con, Ba hy vọng con sẽ làm bài được.

Vào phòng thi, mặc dù nhớ lời Ba dặn nhưng tôi chỉ làm bài theo sự hiểu biết của mình, còn đậu hay rớt tính sau.

Tháng sau, kết quả kỳ thi tôi đậu vào lớp 8 trường Trung Học Nông Lâm Súc Bình Dương.

 

 

Đầu tháng 8 Ba tôi đưa tôi lên nhà của Bác Tư. Bắt đầu từ ngày đó tôi phải chấp nhận sống xa nhà, xa bạn bè, nhận nơi đây là quê hương thứ hai của cuộc đời mình.

Căn nhà của Bác Tư rất đơn sơ nhưng ấm áp tình người. Bác có năm người con, ba trai, hai gái. Hai người anh đầu đi lính thỉnh thoảng mới về thăm nhà. Anh thứ ba đang học Đại Học, còn chị Út đang học lớp 10 trường trung học Trịnh Hoài Đức. Còn tôi là một thành viên mới trong gia đình. Bác Tư trai , Bác Tư gái và chị Út rất thương tôi hay gọi tôi là Út mót.

Thời gian đầu, lạ cảnh, lạ người, nhất là về ban đêm nghe tiếng ểnh ương, cóc nhái, côn trùng, dế… hòa tấu nghe buồn não nuột, cộng thêm tánh sợ ma nên ban đêm mỗi lần cần đi vệ sinh tôi phải cầu cứu đến chị Út. Nhớ Ba, nhớ Mẹ, anh chị trong gia đình, bạn bè lối xóm… tối nào ngủ tôi cũng khóc.

Ngày qua ngày, vì bài vỡ nhiều, có thêm bạn bè mới, tôi dần dần quen đi nỗi nhớ.

 

 

Qua được một năm làm thân trọ học nơi xứ lạ quê người, tôi cũng mến tay, mến chân gia đình Bác Tư, nhất là chị Út đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc học. Lâu lâu chị cũng nhắc nhở tôi về sự thay đổi cơ thể con gái khi bước vào tuổi mới lớn, nếu có gì khác lạ phải báo cho chị biết.

Ngoài việc học, năm đầu trọ học tôi được chị Út lo cho tất cả. Qua năm thứ hai, tôi học lớp 9, chị Út học lớp 11. Vì là năm thi Tú Tài 1 nên chị Út rất bận rộn về bài vở. Tôi nói chị Út chỉ cho tôi cách nhóm lửa theo kiểu nhà quê, cách nấu cơm, canh, làm cá hoặc kho thịt.

 

 

Lần đầu theo học nghề với chị Út thấy sao mà đơn giản, những lần sau tự mình làm. Mỗi lần nhóm bếp lửa là nước mắt, nước mũi tèm lem, cơm có bửa khê, bửa sống, chị Út nói tôi nấu cơm ba tầng rất giỏi không thua gì đổ sương sa ba màu. Tôi biết chị Út chọc quê nhưng tôi không giận vì chị Út thường hay nói: ráng nghe cưng để sau về làm dâu không bị Mẹ chồng ăn hiếp, bắt bẻ.

Năm sau nữa chị Út đậu Tú tài 2, chị phải về Sài Gòn trọ học ở nhà tôi. Không biết đây có phải là chuyện trao đổi tù binh hay không? Nhà Bác Tư giờ chỉ còn lại mình tôi và hai bác. Nhiều bửa nhà bị cúp điện hoặc tiết kiệm điện gia đình Bác Tư phải đốt đèn dầu. Một mình ngồi học bài dưới ánh đèn dầu leo lét, thòng chân xuống đất thì bị muỗi chích, sáng ra gãi thành ghẻ, rút chân lên ngồi kiểu nước lụt thì lát sau bước xuống đi không được vì bị tê chân, nhiều khi phải chung vô mùng để ngồi học tránh muỗi tấn công.

 

 

Nhờ có môn thực hành nông trại tại gia nên tôi có cơ hội rủ thêm vài đứa bạn gái về trọ học chung nhà với tôi. Bác Tư trai cho tôi miếng đất nhỏ để thực hành cùng với mấy người bạn trong lớp.

Riêng về phần nấu nướng sau khi đi học về tụi tôi phải chia phiên nhau trực. Mỗi lần nhóm bếp là mỗi lần mấy đứa bạn gọi tôi ơi ới vì không biết chụm củi. Nhớ lại thời gian lúc tập tành làm bếp, thỉnh thoảng tôi cười tủm tỉm một mình hay ra vẻ ta đây là sư phụ hướng dẫn cho các môn đệ trong nghề làm dâu. Ít lâu sau thì nhỏ bạn trọ cùng nhà bê về cái bếp nấu bằng dầu hôi (dầu lửa) để khỏi bị vất vả và tiết kiệm được thời gian cho việc học.

 

      

 

Làm thân con gái ở trọ để đi học thật là vất vả, gian nan. Chả bù lại mấy ông con trai dù thân ở trọ nhưng sướng hơn bọn con gái nhiều. Trưa  hay chiều đi học về là trực chỉ bước vào quán cơm xã hội làm một bụng không phải lo nấu nướng, rửa chén bát gì ráo trọi. Còn những đứa bạn gái người địa phương thì càng sướng hơn, trưa có thể mang cơm theo tấp vô nhà mấy đứa ở trọ nghỉ ngơi, ăn uống để buổi chiều tiếp tục học. Mà nghĩ cũng lạ, chưa bao giờ tôi thấy tà áo dài Nâu nào dám bước chân vào quán cơm xã hội trong suốt thời gian tôi trọ học ở chợ Búng. Đúng là học ăn, học nói, học gói, học mở không phải dễ dàng đối với thần dân kẹp tóc NLS.

Ngoài học sinh địa phương ra, hầu hết dân ở trọ chúng tôi từ mọi miền đất nước về đây hội tụ dưới mái trường NLSBD: Sài Gòn, Long An, Vũng Tàu, Biên Hòa, Thủ Đức, Cần Giờ, Tây Ninh, Trảng Bàng, Hậu Nghĩa v…v… Đất lành chim đậu, cũng may nhờ có những tấm lòng nhân hậu, hiền lành, thật thà của Bác Hai Rua, bác Tư, Dì Năm, Cô Bảy, Dượng Út… đã cưu mang gia đình NLSBD cho ở trọ.

Ngoài nhóm tụi tôi ở trọ gần chợ Búng còn rất nhiều thần dân áo Nâu ở trọ rải rác xung quanh chợ Búng như xóm đường rầy xe lửa đường vào xã Hưng Định, nhóm chùa Tàu gần cầu Bà Hai, nhóm gần rạp hát (ngã ba đối diện ủy ban Xã). Lên tí xíu qua khỏi bánh bèo bì Mỹ Liên có ngã tư, quẹo phải vào trường Nữ Trịnh Hoài Đức tụi tôi thường gọi đùa là nhóm Thẩn Thờ (mấy ông thần NLS khoái nhất khu nầy vì mỗi buổi chiều được ngắm các tà áo dài nữ sinh THĐ), quẹo trái qua chiếc cầu nhỏ vào sâu phía trong là những vườn cây ăn trái sum xê, ở đây có nhóm cầu cống (cầu đúc xi măng nhỏ bắt ngang qua con rạch). Lên tới trường, phía sau khu nông trại cũng có xóm nhà lá của dân kẹp tóc NLS mà chúng tôi gọi đùa là nhóm hàng tre. Đặc biệt sát bên cổng khu nông trại có Bộ Lạc Hai Rua.

Trong suốt 6 năm chúng tôi trọ học nơi nầy (từ lớp 8 đến lớp Cao Đẳng) chưa bao giờ chúng tôi bị tai tiếng quậy phá, cặp bè kết bạn, trai gái với nhau. Chỉ việc lo Ăn-Học xong cũng bá thở. Gái thì trọ học theo gái, trai thì trọ học theo trai, chỉ riêng Bộ Lạc Hai Rua thì trai gái ở chung nhưng chưa bao giờ có tai tiếng gì cả.

Trò thì trọ học đã đành, Thầy Cô cũng cùng chung số phận, như chuyện Cô Nguyễn Thị Thu và Thầy Trần Tấn Miêng kể trên Trang Nhà NLSBD:

*Giáo chức ở đây, một số là người gốc BD thì ở tại tỉnh, còn phần đông ở Sài gòn hay các nơi khác và thường đeo xe đò đi về mỗi ngày.  Hoặc có người tá túc đỡ nhà bạn bè, đồng nghiệp hai hay ba hôm, khi dạy đủ số giờ trong tuần thì mới về. Nhóm giáo chức nữ thường xuyên bám trụ lại BD vào những ngày phải lên trường gồm có cô Nguyễn Nguyệt Yến, Cô Trần Thị Nữ, Cô Loan… và tôi. Cư dân - hoặc trở thành cư dân BD - như Cô Vàng, thầy Lung và cô Hương...v..v...

**Thầy Nguyễn văn Thi, người địa phương và cũng là đồng nghiệp của chúng tôi, nhờ sự gởi gắm từ một người bạn của bạn tôi, anh đã chờ sẵn khi chúng tôi vừa mới đến và như có sự chuẩn bị trước. Anh dẫn chúng tôi đến nhà bà Bảy, một bà lão chỉ sống một mình trong một ngôi nhà thật khang trang, rộng rãi, thoáng mát. Tiền nhà bà lấy rẻ đến mức tôi nghỉ đấy chỉ là chi phí bù vào tiền điện nước. Tuyệt hơn nữa là con gái lớn bà, Dì Hai có quán cơm ở gần cầu Bà Hai chỉ cách đó chừng 300m. Bà còn nói: chuyện cơm nước mấy thầy khỏi phải lo, để tôi bảo cháu ngoại tôi mỗi bửa xách lên cho. Vậy đó, ngày đầu tiên đến chợ Búng của chúng tôi, nơi đất khách quê người mà việc ăn ở của chúng tôi được giải quyết một cách tốt đẹp không thể nào tốt đẹp hơn thế nữa. Đấy là mối ân tình đầu tiên mà người Bình Dương đã trao cho chúng tôi...

... Giờ thì các con tôi đã lớn, tôi còn có cháu nữa. Tôi thường nói với chúng: Ba mẹ không phải người Bình Dương, nhưng đất và trời ở Bình Dương đã nâng đở và che chở chúng ta, người Bình Dương đã bảo bọc chúng ta, mái trường NLS Bình Dương đã sinh ra cho ba những người anh em, chính là các cô các chú các con. Các con đã chôn nhau cắt rốn ở đây. Các con là người Bình Dương rồi.

Cùng chung một hoàn cảnh, cùng chung một ngôi trường, cùng màu áo Nâu đã tạo nên nét đặc thù riêng biệt trong tình cảm Thầy-Trò gắn bó cho mãi tới bây giờ, sau hơn 50 năm trôi qua.

Ông bà mình thường nói: Ăn-Học. Ăn trước, ổn định chổ ở rồi bây giờ tới chuyện học.

Trường Trung Học Nông Lâm Súc Bình Dương nằm tọa lạc trên quốc lộ 13 cũ, thuộc xã An Thạnh (Búng), quận Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương. Là một ngôi trường dạy về kỷ thuật trồng trọt, chăn nuôi v..v… Ngày học hai buổi: sáng lý thuyết, chiều thực hành chưa kể cộng thêm những môn học khác giống như phổ thông bên ngoài. Làm thân con con gái bước chân vào ngôi trường nầy lúc đầu te tua như cái mền rách.

- Ê, hôm qua cuốc đất tay tao bị phòng lên hết.

- Sao hôm nay mầy ăn cơm ít quá vậy? Bộ ốm nghén gì hả…!?

- Tầm bậy, tầm bạ, chiều hôm qua lớp tao thực hành nông trại, lần đầu trong cuộc đời được ngửi mùi phân chuồng sắp muốn ói.

- Ê mầy có quen ai mướn đóng dùm tao cái chuồng gà hay chuồng thỏ đi.

.....

Việc học hành rất là bận rộn, bài vở thì nhiều nên ít khi nào nghe mấy nhỏ bạn tâm sự gì về tuổi vừa mới lớn. Nói vậy chớ không phải lúc nào cũng lo học mà tâm hồn khô cằn, sỏi đá. Thỉnh thoảng cũng mơ mộng ti tí khi đọc được bài thơ tình, nghe một bản nhạc hát về những mối tình thuở học trò.

“Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường…” (Thơ Nguyên Sa)
 

Ủa ! Mà tôi chưa bao giờ nghe ai sáng tác: Áo nàng Nâu anh mến lá sân chùa…!?

Nếu có chăng, anh chàng nào đó học ban Canh Nông lỡ yêu thầm cô nàng ban Mục Súc mà chuyện tình không được nàng hồi âm bèn tức tối:

- Anh về cuốc đất trồng khoai
Lấy em Mục Súc tàn phai cuộc đời !?
 

Hay là:

Ai ơi đừng lấy Công Thôn
Ảnh cưa, ảnh đục, ảnh dùi tàn hoa.
 

Hoặc là anh chàng Mục Súc theo cô nàng Canh Nông:

Em ơi anh có nuôi gà
Em trồng rau cải, dưa cà mồng tơi
Gừng cay, muối mặn cưa đôi
Anh gặm đầu cánh còn em đồ lòng
Lỡ mai sau…em lấy chồng
Lông gà anh kết làm quà tặng em.
 

Riêng vài bạn gái lỡ theo ngành Công Thôn thì được ví như hoa lạc giữa rừng gươm. Không hiểu tại sao!?

Học thì phải hành, hành thì phải khổ, khổ xong rồi mới sướng. Thực vậy ngoài phần lý thuyết ở trường, về nhà chúng tôi còn phải thực hành nông trại tại gia. Đây là môi trường thuận lợi cho quý Thầy Cô tìm hiểu thêm về đời sống của người dân xứ Bình. Học trò thì có điều kiện hơn để giúp đỡ lẫn nhau. Từng nhóm nhỏ sau những giờ thực hành cực nhọc, tụi mình rũ nhau đi ăn đám giổ, hoặc vào những vườn trái cây của gia đình bạn bè mặc sức leo trèo thưởng thức những chùm dâu, măng cụt, mít tố nữ…Mà nghĩ cũng lạ, học cùng trường, trọ cùng chỗ, sướng khổ có nhau, nhưng không biết tại sao lúc đó tụi tôi bước vào tuổi 15-17, tuổi Mực Tím, Tuổi Ngọc, Tuổi Hồng… mà không có đứa nào có một mảnh tình vắt vai, hay để làm của hồi môn… Đến khi về chiều, gặp nhau mới kể.

Riêng tôi sau những năm trọ học nơi xứ Búng, ít nhiều gì tôi không quên được những kỷ niệm nơi nầy. Năm mươi năm trôi qua, quá khứ vẫn còn tồn đọng trong ký ức của tôi. Mỗi lần họp mặt là mỗi lần mình thấy cay cay nơi khóe mắt.

Tình đầu một thuở áo Nâu
Cay cay khóe mắt mỗi lần gặp nhau
Thời gian dẫu có phai màu
Trường xưa, tình cũ thì thầm Cố Nhân.
 
 

Hai Râu NLSBD

Kỷ niệm mùa tựu trường
Thu tháng 9-2020

 

P/S: Mình là dân địa phương chưa bao giờ ở trọ. Bài viết nầy được ghi lại qua những câu chuyện của bạn bè kể, tưởng tượng, thêm mắm, thêm muối. Nếu có điều chi sơ sót hoặc không đúng, xin lượng thứ cho người viết. Thành thật cám ơn.

 

*Trích từ bài viết của Cô Nguyễn Thị Thu: Số Ăn Chực - Trang nhà NLSBD

**Trích từ bài viết của Thầy Trần Tấn Miêng: Một thời để nhớ - Trang Nhà NLSBD